Sunday June 03, 2018

Theme: The Sovereign LORD Hears my Cry

Psalm 18:1-15

For the director of music. Of David the servant of the LORD. He sang to the LORD the words of this song when the LORD delivered him from the hand of all his enemies and from the hand of Saul. He said:

1 I love you, O LORD, my strength.

2 The LORD is my rock, my fortress and my deliverer;

my God is my rock, in whom I take refuge.

He is my shield and the horn of my salvation, my stronghold.

3 I call to the LORD, who is worthy of praise,

and I am saved from my enemies.

4 The cords of death entangled me;

the torrents of destruction overwhelmed me.

5 The cords of the grave coiled around me;

the snares of death confronted me.

6 In my distress I called to the LORD; I cried to my God for help.

From his temple he heard my voice;

my cry came before him, into his ears.

7 The earth trembled and quaked,

and the foundations of the mountains shook;

they trembled because he was angry.

8 Smoke rose from his nostrils;

consuming fire came from his mouth,

burning coals blazed out of it.

9 He parted the heavens and came down;

dark clouds were under his feet.

10 He mounted the cherubim and flew;

he soared on the wings of the wind.

11 He made darkness his covering,

his canopy around him—

the dark rain clouds of the sky.

12 Out of the brightness of his presence clouds advanced,

with hailstones and bolts of lightning.

13 The LORD thundered from heaven;

the voice of the Most High resounded.

14 He shot his arrows and scattered the enemies,

great bolts of lightning and routed them.

15 The valleys of the sea were exposed

and the foundations of the earth laid bare at your rebuke,

O LORD, at the blast of breath from your nostrils.

 

 

Sunday June 03, 2018

Chủ Đề: Đức Chúa Trời Toàn Năng Nghe Tiếng Tôi Cầu Xin

Thi-thiên 18:1-15

 

1 Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là năng lực tôi,

tôi yêu mến Ngài.

2 Đức Giê-hô-va là hòn đá tôi, đồn lũy tôi, Đấng giải cứu tôi;

Đức Chúa Trời là hòn đá tôi, nơi Ngài tôi sẽ nương náu mình;

Ngài cũng là cái khiên tôi, sừng cứu rỗi tôi,

và là nơi náu ẩn cao của tôi.

3 Đức Giê-hô-va đáng được ngợi khen; tôi sẽ kêu cầu Ngài,

Ắt sẽ được giải cứu khỏi các kẻ thù nghịch tôi.

4 Các dây sự chết đã vương vấn tôi,

Lụt gian ác chảy cuộn làm cho tôi sợ hãi.

5 Những dây Âm phủ đã vấn lấy tôi,

Lưới sự chết hãm bắt tôi.

6 Trong cơn gian truân tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va,

Tôi kêu cầu Đức Chúa Trời tôi: Tại đền Ngài,

Ngài nghe tiếng tôi, Và tiếng kêu cầu của tôi thấu đến tai Ngài.

7 Bấy giờ đất động và rung,

Nền các núi cũng lay chuyển

Và rúng động, vì Ngài nổi giận.

8 Khói bay ra từ lỗ mũi Ngài,

Ngọn lửa hực phát ra từ miệng Ngài,

Làm cho than cháy đỏ.

9 Ngài làm nghiêng lệch các từng trời, và ngự xuống;

Dưới chân Ngài có vùng đen kịt.

10 Ngài cỡi chê-ru-bin và bay, Ngài liệng trên cánh của gió.

11 Ngài nhờ sự tối tăm làm nơi ẩn núp mình,

Dùng các vùng nước tối đen và mây mịt mịt của trời,

Mà bủa xung quanh mình Ngài dường như một cái trại.

12 Từ sự rực rỡ ở trước mặt Ngài, ngang qua các mây mịt mịt của Ngài,

Có phát ra mưa đá và than hực lửa.

13 Đức Giê-hô-va sấm sét trên các từng trời,

Đấng Chí cao làm cho vang rân tiếng của Ngài,

Có mưa đá và than hực lửa.

14 Ngài bắn tên, làm cho tản lạc quân thù nghịch tôi,

Phát chớp nhoáng nhiều, khiến chúng nó lạc đường.

15 Hỡi Đức Giê-hô-va, bởi lời hăm he của Ngài,

Bởi gió xịt ra khỏi lỗ mũi Ngài,

Đáy biển bèn lộ ra,

Và các nền thế gian bị bày tỏ.

 

 

 

Sunday June 10, 2018

Theme: The Protecting LORD Rescues Me

Psalm 18:16-31

16 He reached down from on high and took hold of me;

he drew me out of deep waters.

17 He rescued me from my powerful enemy, from my foes,

who were too strong for me.

18 They confronted me in the day of my disaster,

but the LORD was my support.

19 He brought me out into a spacious place;

he rescued me because he delighted in me.

20 The LORD has dealt with me according to my righteousness;

according to the cleanness of my hands he has rewarded me.

21 For I have kept the ways of the LORD;

I have not done evil by turning from my God.

22 All his laws are before me;

I have not turned away from his decrees.

23 I have been blameless before him

and have kept myself from sin.

24 The LORD has rewarded me according to my righteousness,

according to the cleanness of my hands in his sight.

25 To the faithful you show yourself faithful,

to the blameless you show yourself blameless,

26 to the pure you show yourself pure,

but to the crooked you show yourself shrewd.

27 You save the humble

but bring low those whose eyes are haughty.

28 You, O LORD, keep my lamp burning;

my God turns my darkness into light.

29 With your help I can advance against a troop;

with my God I can scale a wall.

30 As for God, his way is perfect;

the word of the LORD is flawless.

He is a shield for all who take refuge in him.

31 For who is God besides the LORD?

And who is the Rock except our God?

 

 

 

Sunday June 10, 2018

Chủ đề: Đấng Bảo Vệ Giải Cứu Tôi

Thi-thiên 18:16-31

16 Từ Trên cao Ngài giơ tay ra nắm tôi,

Rút tôi ra khỏi nước sâu.

17 Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch có sức lực,

Khỏi kẻ ghét tôi, vì chúng nó mạnh hơn tôi.

18 Trong ngày gian truân chúng nó xông vào tôi;

Nhưng Đức Giê-hô-va nâng đỡ tôi.

19 Ngài đem tôi ra nơi rộng rãi,

Giải cứu tôi, vì Ngài ưa thích tôi.

20 Đức Giê-hô-va đã thưởng tôi tùy sự công bình tôi,

Báo tôi theo sự thanh sạch của tay tôi.

21 Vì tôi đã giữ theo các đường lối Đức Giê-hô-va,

Chẳng có làm ác xây bỏ Đức Chúa Trời tôi.

22 Vì các mạng lịnh Ngài đều ở trước mặt tôi,

Còn luật lệ Ngài, tôi nào bỏ đâu.

23 Tôi cũng ở trọn vẹn với Ngài,

Giữ lấy mình khỏi ác.

24 Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã báo tôi tùy sự công bình tôi,

Thưởng tôi theo sự thanh sạch của tay tôi trước mặt Ngài.

25 Kẻ hay thương xót, Chúa sẽ thương xót lại;

Đối cùng kẻ trọn vẹn, Chúa sẽ tỏ mình trọn vẹn lại;

26 Đối cùng kẻ thanh sạch, Chúa sẽ tỏ mình thanh sạch lại;

Còn đối cùng kẻ trái nghịch, Chúa sẽ tỏ mình nhặt nhiệm lại.

27 Vì Chúa cứu dân bị khốn khổ;

Nhưng sụp mắt kẻ tự cao xuống.

28 Chúa thắp ngọn đèn tôi: Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi,

soi sáng nơi sự tối tăm tôi.

29 Nhờ Ngài tôi sẽ xông ngang qua đạo binh,

Cậy Đức Chúa Trời tôi, tôi sẽ vượt khỏi tường thành.

30 Còn Đức Chúa Trời, các đường lối Ngài là trọn vẹn;

Lời của Đức Giê-hô-va đã được luyện cho sạch;

Ngài là cái khiên cho những kẻ nào nương náu mình nơi Ngài.

31 Trừ ra Đức Giê-hô-va, ai là Đức Chúa Trời?

Ngoại Đức Chúa Trời chúng tôi, ai là hòn đá lớn?

 

 

Sunday June 17, 2018

Theme: The Victorious LORD Sustains Me

Psalm 18:32-50

32 It is God who arms me with strength

and makes my way perfect.

33 He makes my feet like the feet of a deer;

he enables me to stand on the heights.

34 He trains my hands for battle;

my arms can bend a bow of bronze.

35 You give me your shield of victory,

and your right hand sustains me;

you stoop down to make me great.

36 You broaden the path beneath me,

so that my ankles do not turn.

37 I pursued my enemies and overtook them;

I did not turn back till they were destroyed.

38 I crushed them so that they could not rise;

they fell beneath my feet.

39 You armed me with strength for battle;

you made my adversaries bow at my feet.

40 You made my enemies turn their backs in flight,

and I destroyed my foes.

41 They cried for help, but there was no one to save them—

to the LORD, but he did not answer.

42 I beat them as fine as dust borne on the wind;

I poured them out like mud in the streets.

43 You have delivered me from the attacks of the people;

you have made me the head of nations; people I did not know are subject to me.

44 As soon as they hear me, they obey me;

foreigners cringe before me.

45 They all lose heart;

they come trembling from their strongholds.

46 The LORD lives! Praise be to my Rock!

Exalted be God my Savior!

47 He is the God who avenges me,

who subdues nations under me,

48 who saves me from my enemies.

You exalted me above my foes;

from violent men you rescued me.

49 Therefore I will praise you among the nations,

O LORD; I will sing praises to your name.

50 He gives his king great victories;

he shows unfailing kindness to his anointed,

to David and his descendants forever.

 

Sunday June 17, 2018

Theme: Đấng Đắc Thắng Nâng Đỡ Tôi

Thi-thiên 18:32-50

32 Đức Chúa Trời thắt lưng tôi bằng năng lực,

Và ban bằng đường tôi.

33 Ngài làm cho chân tôi lẹ như chân con nai cái,

Và để tôi đứng trên các nơi cao của tôi.

34 Ngài tập tay tôi đánh giặc,

Đến đỗi cánh tay tôi giương nổi cung đồng.

35 Chúa cũng đã ban cho tôi sự cứu rỗi làm khiên;

Tay hữu Chúa nâng đỡ tôi,

Và sự hiền từ Chúa đã làm tôi nên sang trọng.

36 Chúa mở rộng đường dưới bước tôi,

Chân tôi không xiêu tó.

37 Tôi rượt đuổi kẻ thù nghịch tôi, và theo kịp;

Chỉ trở về sau khi đã tận diệt chúng nó.

38 Tôi đâm lủng chúng nó, đến nỗi chúng nó không thế dậy lại được;

Chúng nó sa ngã dưới chân tôi.

39 Vì Chúa đã thắt lưng tôi bằng sức lực để chiến,

Khiến kẻ dấy nghịch cùng tôi xếp rệp dưới tôi.

40 Chúa cũng khiến kẻ thù nghịch xây lưng cùng tôi;

Còn những kẻ ghét tôi, tôi đã diệt chúng nó rồi.

41 Chúng nó kêu, nhưng chẳng có ai cứu cho;

Chúng nó kêu cầu Đức Giê-hô-va, song Ngài không đáp lại.

42 Bấy giờ tôi đánh nát chúng nó ra nhỏ như bụi bị gió thổi đi;

Tôi ném chúng nó ra như bùn ngoài đường.

43 Chúa đã cứu tôi khỏi sự tranh giành của dân sự;

Lập tôi làm đầu các nước;

Một dân tộc tôi không quen biết sẽ hầu việc tôi.

44 Vừa khi nghe nói về tôi; chúng nó sẽ phục tôi;

Các người ngoại bang sẽ giả bộ vâng theo tôi.

45 Các người ngoại bang sẽ tàn mạt

Đi ra khỏi chỗ ẩn mình cách run sợ.

46 Đức Giê-hô-va hằng sống; đáng ngợi khen hòn đá tôi!

Nguyện Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi tôi được tôn cao!

47 Tức là Đức Chúa Trời báo oán cho tôi,

Khiến các dân suy phục tôi.

48 Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch tôi;

Thật Chúa nâng tôi lên cao hơn kẻ dấy nghịch cùng tôi.

Và cứu tôi khỏi người hung bạo.

49 Vì vậy, hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ ngợi khen Ngài giữa các dân,

Và ca tụng danh của Ngài.

50 Đức Giê-hô-va ban cho vua Ngài sự giải cứu lớn lao,

Và làm ơn cho đấng chịu xức dầu của Ngài,

Tức là cho Đa-vít, và cho dòng dõi người, đến đời đời.

 

Sunday June 24, 2018

Theme: The Word of the LORD is Perfect

Psalm 19 For the director of music. A psalm of David.

 

1 The heavens declare the glory of God;

the skies proclaim the work of his hands.

2 Day after day they pour forth speech;

night after night they display knowledge.

3 There is no speech or language where their voice is not heard.

4 Their voice goes out into all the earth,

their words to the ends of the world.

In the heavens he has pitched a tent for the sun,

5 which is like a bridegroom coming forth from his pavilion,

like a champion rejoicing to run his course.

6 It rises at one end of the heavens

and makes its circuit to the other;

nothing is hidden from its heat.

7 The law of the LORD is perfect, reviving the soul.

The statutes of the LORD are trustworthy, making wise the simple.

8 The precepts of the LORD are right,

giving joy to the heart.

The commands of the LORD are radiant,

giving light to the eyes.

9 The fear of the LORD is pure, enduring forever.

The ordinances of the LORD are sure and altogether righteous.

10 They are more precious than gold, than much pure gold;

they are sweeter than honey, than honey from the comb.

11 By them is your servant warned;

in keeping them there is great reward.

12 Who can discern his errors? Forgive my hidden faults.

13 Keep your servant also from willful sins;

may they not rule over me.

Then will I be blameless, innocent of great transgression.

14 May the words of my mouth

and the meditation of my heart

be pleasing in your sight,

O LORD, my Rock and my Redeemer.

 

 

Sunday June 24, 2018

Chủ Đề: Lời của Đức Giê-hô-va Là Trọn Vẹn

Thi-thiên 19

 

1 Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời,

Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm.

2 Ngày nầy giảng cho ngày kia,

Đêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ.

3 Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói;

Cũng không ai nghe tiếng của chúng nó.

4 Dây đo chúng nó bủa khắp trái đất,

Và lời nói chúng nó truyền đến cực địa.

Nơi chúng nó Ngài đã đóng trại cho mặt trời;

5 Mặt trời khác nào người tân lang ra khỏi phòng huê chúc,

Vui mừng chạy đua như người dõng sĩ.

6 Mặt trời ra từ phương trời nầy,

Chạy vòng giáp đến phương trời kia;

Chẳng chi tránh khỏi hơi nóng mặt trời được.

7 Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại;

Sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn,

làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan.

8 Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng,

làm cho lòng vui mừng;

Điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch,

làm cho mắt sáng sủa.

9 Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch,

hằng còn đến đời đời;

Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chân thật,

thảy đều công bình cả.

10 Các điều ấy quí hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng;

Lại ngọt hơn mật, hơn nước ngọt của tàng ong.

11 Các điều ấy dạy cho kẻ tôi tớ Chúa được thông hiểu;

Ai gìn giữ lấy, được phần thưởng lớn thay.

12 Ai biết được các sự sai lầm mình?

Xin Chúa tha các lỗi tôi không biết.

13 Xin Chúa giữ kẻ tôi tớ Chúa khỏi cố ý phạm tội;

Nguyện tội ấy không cai trị tôi;

Thì tôi sẽ không chỗ trách được,

và không phạm tội trọng.

14 Hỡi Đức Giê-hô-va là hòn đá tôi, và là Đấng cứu chuộc tôi,

Nguyện lời nói của miệng tôi,

Sự suy gẫm của lòng tôi được đẹp ý Ngài!